Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân loại dựa theo các dạng FDI (đầu tư mới với sáp nhập và mua lại), bản chất của quyền sở hữu (sở hữu toàn bộ với liên doanh) và mức độ hợp nhất (theo chiều ngang với theo chiều dọc).

Căn cứ vào hình thức đầu tư:

Có 3 hình thức chính là đầu tư mới (Green investment),  Sáp nhập (Merge) và Mua lại (Acquisitions)

Các doanh nghiệp đa quốc gia thường ưu tiên mua lại hơn là đầu tư mới vì bằng cách mua lại một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động, doanh nghiệp đa quốc gia sẽ tận dụng được đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm và quyền sở hữu những tài sản đã có như nhà máy, trang thiết bị, và nguồn nhân lực cũng như là kế thừa được nguồn cung ứng và khách hàng. Thêm vào đó, mua lại sẽ mang lại một dòng doanh thu ngay lập tức và làm tăng hệ số thu nhập trên đầu tư của doanh nghiệp đa quốc gia nếu so sánh với đầu tư mới. Ngược lại, Chính phủ của các nước sở tại thường thích các doanh nghiệp đa quốc gia đầu tư mới hơn bởi vì nếu so với mua lại, đầu tư mới sẽ tạo ra việc làm mới và tăng năng lực sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và những bí quyết sản xuất cho các doanh nghiệp địa phương cũng như cải thiện mối liên kết với thị trường toàn cầu. Rất nhiều Chính phủ đã đưa ra những ưu đãi để khuyến khích đầu tư mới, và những ưu đãi này đủ để bù đắp lại những lợi ích thay thế do hình thức mua lại tạo ra.

Căn cứ vào bản chất của quyền sở hữu trong đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chọn mức độ kiểm soát họ mong muốn duy trì trong liên doanh mới thành lập. Điều này có thể đạt được thông qua việc sở hữu toàn phần hay một phần. Quyền sở hữu cho biết mức độ kiểm soát toàn phần hay một phần đối với các vấn đề của doanh nghiệp – ví dụ như những quyết định về các sản phẩm mới, việc mở rộng kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Các công ty có thể  chọn giữa một liên doanh sở hữu toàn phần hoặc một liên doanh hợp tác để có được quyền kiểm soát. Sự lựa chọn này sẽ quyết định mức độ cam kết tài chính của công ty đối với liên doanh nước ngoài.

Bảng 5.3. Đầu tư trực tiếp của Toyota vào các nhà máy sản xuất ở Mỹ

*Liên doanh giữa General Motors và Toyota **dự án

Nguồn: Alex Taylor III (2007) “America’s Best Car Company”, Fotune, 19/03/1999

Rất nhiều công ty thấy liên doanh là một lựa chọn hấp dẫn bởi vì sự phức tạp của các thị trường nước ngoài. Các liên doanh hợp tác có thể làm lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách cấp nguồn vốn cho họ. Ví  dụ, Công ty Tri Star International ở

Thượng Hải  đã mua lại đa số cổ phần đầu tư của Adams Pressed Metals, một nhà sản xuất các phụ kiện cho máy kéo và các thiết bị xới đất khác ở Illinois. Khoản tiền đó đã cứu 40 công nhân của Adams khỏi thất nghiệp và giúp Tri Star thâm nhập được vào thị trường Hoa Kỳ và có được các bí quyết sản xuất.

Trong một vài trường hợp, liên doanh với đối tác địa phương có lẽ là phương thức thâm nhập duy nhất thích hợp cho công ty mẹ. Hình thức này ngày càng gia tăng khi mà Chính phủ của quốc gia được đầu tư muốn bảo vệ các ngành công nghiệp địa phương quan trọng bằng cách cấm các công ty nước ngoài sở hữu 100% các doanh nghiệp ở nước đó. Tuy nhiên, các Chính phủ cũng đã dần nới lỏng các quy định này và tiếp thu các hình thức của FDI dễ dàng hơn.

Căn cứ vào mức độ hợp nhất:

Sự phân loại thứ ba về đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là sự hợp nhất theo chiều dọc và hợp nhất theo chiều ngang.

Liên doanh hợp tác quốc tế (International Collaborative Ventures)

Một liên doanh hợp tác quốc tế là một sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều công ty, bao gồm cả những liên doanh góp vốn cổ phần chung và liên doanh dựa trên dự án không góp vốn cổ phần. Các liên doanh hợp tác quốc tế thỉnh thoảng được hiểu như là các Công ty hợp danh quốc tế (International partnership) và  những Liên minh phương thức quốc tế (International Strategic Alliance). Một liên doanh trên thực tế là một dạng đặc biệt của hợp tác bằng cách công ty mẹ đầu tư vốn để mua cổ phần.

Sự hợp tác giúp các công ty khắc phục được rủi ro và chi phí của kinh doanh quốc tế. Hợp tác giúp các dự án thành công và từ đó mở rộng năng lực của công ty. Các tập đoàn hay công ty thường hợp tác để đạt được những mục tiêu quy mô lớn như phát triển công nghệ mới hay hoàn thành những dự án quan trọng như các nhà máy năng lượng. Bằng cách hợp tác, công ty mẹ có thể thu hút một loạt công nghệ bổ sung, từ đó sẽ giúp cải tiến và phát triển các sản phẩm mới. Lợi thế của việc hợp tác đã giúp giải thích tại sao việc thành lập các công ty hợp danh ngày càng có xu hướng tăng lên trong vài thập kỉ vừa qua.

Việc hợp tác có thể diễn ra ở cùng một mức độ hoặc ở các mức độ khác nhau của chuỗi giá trị,  đặc  biệt ở khâu nghiên cứu & phát triển R&D, sản xuất hoặc marketing. Các liên doanh hợp tác quốc tế  đang ngày càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển chung trong các lĩnh vực công nghệ cao và có hàm lượng tri thức lớn như các ngành chế tạo rô bốt, chất bán dẫn, máy bay, các trang thiết bị y tế và dược phẩm.

Có hai loại hình doanh nghiệp liên doanh hợp tác cơ bản là: các liên doanh góp vốn cổ phần (Equity Joint Venture) và các liên doanh dựa trên dự án không góp vốn cổ phần (Project – based non Equity Venture) . Các liên doanh góp vốn cổ phần là loại hình hợp tác quen thuộc đã có từ rất lâu. Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây xuất hiện hình thức hợp tác mới, hợp tác dựa trên dự án.

Các liên doanh này được thành lập khi không một bên nào sở hữu tất cả tài sản cần thiết để nắm quyền quyết định. Trong đầu tư quốc tế, đối tác nước ngoài thường đóng góp vốn, công nghệ, chuyên môn quản lý, đào tạo, hoặc sản phẩm. Đối tác địa phương đóng góp nhà máy hoặc cơ sở vật chất kinh doanh khác, kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa địa phương, các bí quyết sản xuất định hướng thị trường, sự kết nối hữu ích với chính phủ của nước sở tại hoặc những yếu tố sản xuất với chi phí thấp hơn như lao động hay nguyên liệu thô. Các công ty phương Tây thường tìm kiến các liên doanh để có thể thâm nhập nhanh hơn vào thị trường Châu Á. Việc liên doanh cho phép công ty nước ngoài có được kiến thức về thị trường trọng tâm, tăng khả năng thâm nhập ngay lập tức tới hệ thống phân phối và các khách hàng, và đat được sự kiểm soát lớn hơn đối với các hoạt động ở địa phương.

Ví dụ  Procter&Gamble  (P&G)  liên  doanh  góp  vốn  chung  với  Dolce  & Gabbana, một thương hiệu thời trang của Ý. Trong giao dịch này, P&G sản xuất nước hoa, còn công ty của Ý sẽ quảng bá chúng trên thị trường Châu Âu, tận dụng sức mạnh thương hiệu nổi tiếng của họ. Samsung, một công ty đồ điện tử của Hàn Quốc, đã bắt đầu quốc tế hóa từ những năm 70 thông qua các liên doanh với những nhà cung ứng công nghệ của nước ngoài như NEC, Sanyo và Corning Glass Works. Mối quan hệ đối tác cho phép Samsung có được  mẫu thiết kế sản phẩm và các cửa hàng phục vụ marketing và giúp cho ban quản lý tự tin hơn trong các hoạt động giao dịch với nước ngoài. Khi năng lực đã được cải thiện, Samsung đã đầu tư ra sản xuất trên thế giới. Nỗ lực sản xuất ở nước ngoài đầu tiên của công ty là một liên doanh được mở năm 1982 ở Bồ Đào Nha.

Với mức độ ngày càng phổ biến trong việc kinh doanh qua biên giới, liên doanh dựa trên dự án, không góp vốn cổ phần là một sự hợp tác trong đó các đối tác tạo ra một dự án với một phạm vi tương đối hẹp và một thời gian biểu rõ ràng mà không tạo ra một pháp nhân mới. Bằng cách kết hợp đội ngũ công nhân viên, các nguồn lực và các khả năng, các đối tác hợp tác cho đến khi liên doanh làm ăn có kết quả, hay cho đến khi cả hai bên không còn thấy lợi ích trong việc hợp tác nữa. Các bên đối tác sẽ hợp tác phát triển chung về  các công nghệ mới, các sản phẩm hay chia sẻ ý kiến chuyên môn với nhau. Sự hợp tác như vậy có thể giúp họ theo kịp đối thủ trong sự phát triển công nghệ. Ví dụ, Sony  đã phát triển bộ vi xử lý được dùng trong trò chơi Playstation3 nhờ hợp tác với IBM và Toshiba. Liên doanh này đã dẫn tới việc tạo ra con chíp Cell nhanh gấp 10 lần con chíp Pentium mạnh nhất của Intel, cho phép chơi game với cấu hình đồ họa mạnh hơn.

Các liên doanh dựa trên dự án, không góp vốn cổ phần đặc biệt phổ biến trong những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao. Một ví dụ là IBM và NTT, những công ty đã thiết lập mối quan hệ đối tác phương thức trong một khoảng thời gian nhất định.  Trong  mối  liên  kết  này,  IBM  cung  cấp  các  dịch  vụ  gia  công  phần  mềm (outsourcing) cho NTT, đến lượt mình hãng vận tải viễn thông có uy tín của Nhật Bản cũng cung cấp các dịch vụ gia công phần mềm và các đầu mối liên lạc để bán các dịch vụ máy tính cho các khách hàng ở Nhật Bản. Trong một ví dụ khác, công ty của Đức Siemens hợp tác với Motorola để phát triển thế hệ tiếp theo của wafer 300mm 12ịnch, một cải tiến quan trọng trong ngành công nghiệp chất bán dẫn toàn cầu. Các chất bán dẫn là những vi mạch được sử dụng trong sản xuất các máy tính và hàng điện tử dân dụng. Trong khi Motorola cung cấp kiến thức chuyên môn về các sản phẩm logic tiên tiến và sản xuất ưu việt, thì Siemens đóng góp những kiến thức cao cấp về bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên.

Những khác biệt giữa Liên doanh góp vốn cổ phần và liên doanh dựa trên dự án, không góp vốn cổ phần

Hợp tác dựa trên dự án khác với liên doanh góp vốn cổ phần truyền thống ở bốn điểm quan trọng. Thứ nhất, không pháp nhân mới nào được thành lập. Các đối tác tiến hành hoạt động của họ theo sự hướng dẫn của  hợp đồng. Thứ hai, các công ty mẹ không nhất thiết phải có quyền sở hữu một doanh nghiệp đang tồn tại. Thay vào đó, những công ty này chỉ đơn giản đóng góp kiến thức,  chuyên môn, cán bộ công nhân viên, và nguồn lực tài chính để thu lợi từ kiến thức hoặc các ích lợi từ việc thâm nhập vào thị trường. Thứ ba, việc hợp tác thường có xu hướng có thời gian biểu rõ ràng và ngày kết thúc, và các đối tác sẽ “đường ai nấy đi” ngay sau khi các mục tiêu đã đạt được hoặc các đối tác không còn lý do gì để tiếp tục. Thứ tư, bản chất của sự hợp tác là phạm vi hẹp hơn, thường xoay quanh các dự án, các sản phẩm mới, marketing, phân phối, tìm kiếm nguồn hay sản xuất.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận